“Biển một bên và em một bên” – Giữ lấy một điều không thể mất
Anh ra khơi
Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng…
Chỉ cần như thế, một buổi chia tay bỗng thành vĩnh viễn. Một câu thơ mở đầu như gió nhẹ, nhưng ẩn chứa phía sau là một cánh cửa không ai dám chắc có ngày trở lại.
Và Trần Đăng Khoa – người từng là thần đồng thơ ca, đã chọn viết bài thơ tình đẹp nhất của đời mình không phải giữa một căn gác có ánh đèn vàng, mà là trên mép sóng, nơi người lính đứng giữa hai miền chông chênh nhất của con người: tình yêu và Tổ quốc.
Biển một bên và em một bên.
Câu thơ ấy – ai cũng thuộc, nhưng không mấy ai đã nghĩ hết được độ sâu của nó. Bởi để thấy được cái vĩ đại của một bài thơ ngắn, cần nhìn từ phía những gì mà nó không nói ra.
Ở đây, người lính không hứa hẹn, không thề non hẹn biển. Không có nước mắt, cũng chẳng có mùi thuốc súng. Chỉ có một vẻ trầm mặc rợn ngợp, như thể người đàn ông ấy đã chấp nhận đi hết phần đời còn lại chỉ với một ký ức:
“Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ…”
Cái mỉm cười ấy – có lẽ là hình ảnh duy nhất anh còn giữ lại khi con tàu đã đi xa bờ. Và rồi:
“Anh như con tàu, lắng sóng từ hai phía.”
Một bên là biển rộng, một bên là tiếng em.
Nhưng rồi, thơ Trần Đăng Khoa không dừng lại ở chỗ lãng mạn. Nó đi dần tới một nốt trầm của số phận người lính:
“Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên
Bão thổi chưa ngừng trong những vành tang trắng…”
Đó là khi cái đẹp bị thách thức bởi cái đau, khi tình yêu buộc phải lùi bước trước sự sinh tồn của một đất nước chưa bao giờ thật sự ngủ yên. Những vành tang trắng kia – là của mẹ, của vợ, của em – và cũng là của chính lịch sử này, cứ nối tiếp nhau trong cái vòng xoáy không dứt.
Người lính không còn thời gian để yêu như một thi sĩ.
Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng.
**
Và rồi đến khổ thơ cuối – như một cuộc trút bỏ âm thầm:
Vòm trời kia có thể sẽ không em
Không hiểu nữa. Chỉ còn anh với cỏ…
Tình yêu giờ đây đã trở thành ký ức, thậm chí là một điều không chắc có thật. Có thể em đã lấy chồng. Có thể em đã quên. Có thể cuộc sống đã nhấn chìm mọi mộng mơ cũ. Nhưng:
“Cho dù thế thì anh vẫn nhớ…”
Chính câu ấy – làm cho bài thơ không chỉ là một bài thơ tình. Nó trở thành một tuyên ngôn của lòng trung thành. Không chỉ với tình yêu, mà là với một điều gì đó sâu xa hơn – là chính mình, là ký ức, là nhân phẩm.
**
Ngày hôm nay, đất nước vẫn chưa bình yên. Biển Đông vẫn có sóng ngầm. Từng hải lý chủ quyền vẫn bị thử thách bởi những tàu khảo sát không tên, những giàn khoan có hộ tống, những bản đồ đường lưỡi bò in trên cả gói mì tôm.
Người lính biển hôm nay không thiếu vũ khí – nhưng đôi khi họ thiếu tiếng nói. Thiếu một lời thừa nhận chính thức về những gì họ đang đối diện. Và có khi – họ còn thiếu cả niềm tin rằng phía sau họ, đất liền không bị mua bán.
**
Gã không đủ sức nói thay cho ai. Nhưng trong cõi thơ của dân tộc này, nếu phải giữ lại một bài thơ tình để gửi cho thế hệ lính trẻ hôm nay, Gã xin chọn bài này.
Vì nó nhắc ta nhớ rằng: tình yêu không chỉ là cảm xúc – mà là một phần của nhân cách.
Vì nó khiến ta phải tự hỏi: nếu hôm nay ta ra khơi, liệu còn ai ở lại nhớ mình như thế?
Và vì biển một bên – mà em cũng chỉ còn ở một bên… nếu lòng người nghiêng lệch.
Thơ:
Anh ra khơi
Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng
Phút chia tay, anh dạo trên bến cảng
Biển một bên và em một bên.
Biển ồn ào, em lại dịu êm
Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ
Anh như con tàu, lắng sóng từ hai phía
Biển một bên và em một bên
Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn
Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc
Thăm thẳm nước trôi, nhưng anh không cô độc
Biển một bên và em một bên.
Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên
Bão thổi chưa ngừng trong những vành tang trắng
Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng
Biển một bên và em một bên.
Vòm trời kia có thể sẽ không em
Không hiểu nữa. Chỉ còn anh với cỏ
Cho dù thế thì anh vẫn nhớ
Biển một bên và em một bên.
(Thơ tình người lính biển – Trần Đăng Khoa)
Gã khờ – Nguyễn Quốc Chính



